Có thể phòng tránh và kiểm soát bệnh thận nếu tuân thủ những nguyên tắc như: hoạt động thể lực ăn nhập; kiểm soát đường huyết; kiểm soát huyết áp; chế độ dinh dưỡng ăn nhập và kiểm soát cân nặng; bảo đảm uống đủ nước; tránh các chất kích thích (rượu bia, thuốc lá...); dùng thuốc theo chỉ định của thầy thuốc; khám định kỳ và rà chức năng thận nếu có nguyên tố nguy cơ.
Sỏi thận là nguyên cớ gây suy thận.
tập dượt phòng tránh và kiểm soát bệnh thận
tập dượt có thể không trực tiếp tác động có lợi đối với hệ thống thận tiết niệu. Nhưng việc luyện tập giúp quá trình thảo luận chất diễn ra tiện lợi, kiểm soát áp huyết, các bệnh lý chuyển hóa, thừa cân-béo phì... Từ đó giúp ngừa và kiểm soát bệnh thận.
Béo phì dẫn đến những đổi thay trực tiếp về áp lực lọc và áp lực máu tại thận. Với người mắc bệnh thận mạn tính có kèm theo tình trạng thừa cân-béo phì cũng làm tăng tiến triển bệnh. Béo phì cũng làm tăng nguy cơ bị đái tháo đường, tăng huyết áp, dẫn đến bệnh thận mãn tính, suy thận thời đoạn cuối. Điều trị bệnh thận ở bệnh nhân béo phì, bước đầu tiên phải giảm trọng lượng, do đó việc luyện tập hạp để kiểm soát cân nặng có ý nghĩa vô cùng quan yếu.
Sỏi thận cũng là một bệnh lý tiết niệu thường gặp. Chế độ ăn uống là một trong những nhân tố có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự hình thành, tiến triển của bệnh. ngoại giả, nếp sinh hoạt uống ít nước, nhịn tiểu..., đặc thù công việc tĩnh tại ít vận động có thể là những nhân tố nguy cơ hình thành sỏi. do vậy, các hoạt động thể lực hợp thậm chí không phụ thuộc vào khối lượng, cường độ hay thời kì vận động cũng có vai trò quan yếu góp phần làm giảm nguy cơ sỏi thận.
Duy trì hoạt động thể lực ăn nhập phòng chữa bệnh thận.
Chế độ hoạt động thể lực cho người mắc bệnh thận
Bệnh viêm cầu thận cấp:
Giai đoạn tiến triển đái ít, phù: Người bệnh cần nghỉ ngơi.
tuổi bình phục: Làm việc nhẹ, học tập thường ngày, thực hiện các công việc nhẹ như nấu ăn, giặt là, dọn nhà, làm vườn; các hoạt động tập luyện như đi bộ chậm, tránh các hoạt động thể lực nặng.
Ổn định trong 6 tháng: Làm việc thông thường, thể dục nhẹ nhõm, công việc hành chính, nội trợ thường ngày, việc nông nghiệp nhẹ; tập tành thể lực nhẹ đến vừa như đi bộ nhanh, bơi, đánh golf…
Ổn định trong 2 năm: Làm việc thường nhật, có thể tập thể dục thể thao, hoạt động thể lực mức độ vừa, luyện tập thể dục thể thao như chạy tốc độ chậm, bóng bàn, cầu lông, tập aerobic...
Viêm cầu thận mãn tính:
Nếu protein niệu < 1 g/24giờ:
Suy thận độ I: có thể thực hiện các hoạt động thể lực như bóng chuyền, bóng rổ, đá bóng, chạy tốc độ, chạy cự ly dài, tập gym...)
Suy thận độ II, IIIa: hoạt động thể lực mức độ vừa, luyện tập thể dục thể thao như chạy tốc độ chậm, bóng bàn, cầu lông, tập aerobic...
Suy thận độ IIIb: công việc hành chính, nội trợ bình thường, việc nông nghiệp nhẹ; tập tành thể lực nhẹ đến vừa như đi bộ nhanh, bơi, đánh golf...
Suy thận độ IV: thực hiện các công việc nhẹ như nấu bếp, giặt là, dọn nhà, làm vườn; các hoạt động tập dượt như đi bộ chậm, tránh các hoạt động thể lực nặng.
Nếu protein niệu > 1 g/24giờ:
* Không tăng áp huyết:
Suy thận độ I, II: Hoạt động mức độ vừa phải, tránh hoạt động nặng.
Suy thận độ IIIa, IIIb: Công việc hành chính, nội trợ thường ngày, chế độ hoạt động thể lực phù hợp từ nhẹ đến vừa.
Suy thận độ IV: Hoạt động chừng độ vừa phải, tránh hoạt động nặng.
* Tăng áp huyết
Suy thận độ II, II, IIIa: Công việc hành chính, nội trợ thường nhật, chế độ hoạt động thể lực phù hợp từ nhẹ đến vừa.
Suy thận độ IIIb, IV: Hoạt động mức độ vừa phải, tránh hoạt động nặng.
Hội chứng thận hư:
Đang tiến triển: thực hiện công việc nhẹ nhõm, nghỉ ngơi nhiều hơn.
TS.BS. Phạm Quang Thuận
0 nhận xét:
Đăng nhận xét