Thứ Hai, 2 tháng 12, 2019

Ðiểm mặt nguy cơ gây đột quỵ

Đột quỵ nhẹ và cơn thiếu máu cục bộ não thoáng qua: Một cơn thiếu máu cục bộ não thoáng qua (TIA) là một cơn đột quỵ có thể đảo ngược, thường được gọi là đột quỵ nhỏ. Hầu hết những người đã mắc TIA dễ bị đột quỵ tái phát, nếu các nhân tố nguy cơ tiềm ẩn không được điều trị. TIA là nguyên tố nguy cơ đột quỵ có giá trị tiên đoán nhất và là dấu hiệu cảnh báo bạn cần phải có đánh giá sớm toàn diện sức khỏe.

Ðiểm mặt nguy cơ gây đột quỵ

Lịch sử gia đình bị đột quỵ: Nếu trong gia đình có thành viên bị đột quỵ, bạn có nguy cơ gia tăng đột quỵ do thói quen lối sống hao hao hoặc nhân tố di truyền. Hãy nói với thầy thuốc, nếu bạn có tiền sử gia đình đột quỵ để được hướng dẫn các xét nghiệm y tế cấp thiết.

Bệnh đái tháo đường: Làm thương tổn lớp niêm mạc bên trong của các huyết quản khắp thân thể, bao gồm cả mạch tim và mạch não. Tình trạng này làm gia tăng bệnh huyết quản não có thể dẫn đến đột quỵ. Tiền đái tháo đường và đái tháo đường là cả hai rối loạn chuyển hóa có thể được quản lý bằng chế độ ăn uống và tập thể dục để giảm thiểu hậu quả về sức khỏe.

Tăng huyết áp: Tăng huyết áp là một căn bệnh tiến triển âm thầm của các huyết mạch khắp cơ thể, bao gồm mạch tim, mạch não và động mạch cảnh. Các huyết mạch bị bệnh có khả năng hình thành cục máu đông hoặc cục máu đông trôi đi khắp thân thể, gây tắc mạch não dẫn đến đột quỵ do thiếu máu cục bộ. Tăng áp huyết cũng có thể góp phần gây vỡ các huyết mạch có hình dạng bất thường, gây đột quỵ xuất huyết.

Cholesterol cao: cũng như tăng áp huyết và đái tháo đường, có thể làm thương tổn các động mạch của tim, động mạch cảnh và mạch não. Cholesterol có khuynh hướng điển tích và gây dính trong huyết mạch. Điều này làm tăng nguy cơ hình thành cục máu đông bị kẹt trong mạch máu và làm gián đoạn việc cung cấp máu cho não.

Bệnh động mạch vành: Bệnh động mạch vành (CAD) là khi các huyết quản của tim bị tổn thương hẹp tắc. CAD dẫn đến các cơn đau tim và có thể dẫn đến thiếu nguồn cung cấp máu đột ngột cho não.

Nhịp tim bất thường: Một nhịp tim bất thường, hoặc rối loạn nhịp tim, có thể góp phần hình thành cục máu đông. Những cục máu đông có thể chuyển di đến não và bị mắc kẹt trong các mạch máu nhỏ, dẫn đến đột quỵ do thiếu máu cục bộ.

Bệnh van tim: Có thể là bẩm sinh hoặc có thể phát triển sau này trong cuộc sống. Bệnh van tim cũng có thể gây ra những đổi thay lưu lượng máu khắp cơ thể, làm tăng nguy cơ hình thành cục máu đông và có khả năng dẫn đến đột quỵ thiếu máu cục bộ. Bệnh động mạch cảnh: huyết quản ở cổ là động mạch cảnh. Nếu động mạch cảnh hẹp hoặc tắc, có thể hình thành cục máu đông và chuyển di vào huyết mạch não. Có một số thủ thuật can thiệp có thể tu tạo các thất thường động mạch cảnh.

Khuyết tật tim bẩm sinh: Các khuyết tật tim phát hiện khi sinh có thể gây ra nhiều vấn đề khác nhau, bao gồm đột quỵ. Các khuyết tật về tim có thể bao gồm các mạch máu lạc chỗ, rò rỉ máu từ vùng này đến vùng khác, và các vấn đề phẫu thuật khác. Hầu hết các khuyết tật tim có thể được phát hiện và sửa chữa một cách an toàn ở độ tuổi rất trẻ.

Rối loạn chảy máu: Rối loạn chảy máu là một nhóm các bệnh không có khả năng hình thành cục máu đông hiệp. Điều này dẫn đến chảy máu quá mức và kéo dài trong bất kỳ bộ phận nào của thân, bao gồm não, thường xuất hiện sau một chấn thương. Chảy máu cũng có thể xảy ra một cách thiên nhiên.

Rối loạn đông máu: Khi đông máu là thất thường, nó có thể ảnh hưởng đến sự hình thành cục máu đông. Cục máu đông hình thành trong các mạch máu và phiêu lưu đến não hoặc ở nơi khác trong cơ thể.

Bệnh tự miễn: Một số rối loạn tự miễn nhiễm có thể làm tăng nguy cơ đột quỵ bằng cách phát triển bệnh huyết mạch hoặc hình thành cục máu đông, như bệnh Lupus ban đỏ hệ thống.

Nhiễm trùng nặng: Nhiễm trùng có thể ảnh hưởng đến sự hình thành cục máu đông, mất nước và suy tim. Mối liên hệ giữa nhiễm trùng và đột quỵ được cho là do sự gia tăng tình trạng viêm, có thể làm cho đột quỵ dễ xảy ra hơn.

Phình động mạch não: Phình động mạch não là một huyết quản não có hình dạng thất thường, thường xuất hiện từ lúc sinh. Phình động mạch não có thể vỡ do biến động huyết áp mạnh hoặc bệnh nặng. Nếu bị phình động mạch não, tùy thuộc vào vị trí của chứng phình động mạch và sức khỏe tổng thể của bạn mà thầy thuốc sẽ chỉ định giải phẫu can thiệp.

Ðiểm mặt nguy cơ gây đột quỵ Béo phì là một trong nhiều nguyên tố nguy cơ đột quỵ.

Béo phì: Béo phì đã được chứng minh là một nhân tố nguy cơ đột quỵ độc lập. Điều này có tức là những người béo phì dễ bị đột quỵ hơn so với những người không béo phì có chỉ số áp huyết, cholesterol, đường huyết tương đương.

Lối sống ít vận động: Thiếu hoạt động thể chất thường xuyên có thể làm tăng béo phì, cholesterol cao, tăng huyết áp và các bệnh tim làm tăng nguy cơ đột quỵ.

găng tay và biến đổi tâm cảnh: găng tay là xúc cảm có liên hệ đáng kể nhất với tăng nguy cơ đột quỵ do ảnh hưởng đối với lưu lượng máu, huyết áp và kích thích tố trong thân. Tuy nhiên, biến động tâm trạng, bao gồm trầm cảm và lo lắng, cũng liên tưởng đến đột quỵ.

Hút thuốc lá: Hút thuốc lá gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho lớp niêm mạc bên trong của các mạch máu khắp thân, trong đó có mạch não làm tăng nguy cơ đột quỵ. Tuy nhiên, thực tại đáng sửng sốt nhất là những thiệt hại nảy cho thân thể ưng chuẩn việc hút thuốc dần dần đảo ngược nếu ngưng xúc tiếp với thuốc lá.

TS. BS. Lê Thanh Hải

0 nhận xét:

Đăng nhận xét